Chào mừng quý vị đến với Câu lạc bộ thành viên Hải Phòng.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Quyền pháp luật trong giáo dục.

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Minh Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:16' 12-10-2015
Dung lượng: 448.0 KB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích: 0 người
1
QUYỀN GIÁO DỤC: CƠ SỞ PHÁP LÝ

Công ước quốc tế
Hiến pháp
Luật Giáo Dục
Luật Chăm sóc, bảo vệ & giáo dục trẻ em
Công ước về quyền trẻ em (Việt Nam là quốc gia thứ nhì thông qua 1990, có 193 quốc gia đã thông qua):

Điều 28
1. Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của trẻ em được học hành, và để từng bước thực hiện quyền này trên cơ sở bình đẳng về cơ hội, phải:
a) Thực hiện chính sách giáo dục tiểu học bắt buộc, sẵn có và miễn phí cho tất cả mọi người;
b) Khuyến khích phát triển nhiều hình thức giáo dục trung học khác nhau, kể cả giáo dục phổ thông và dạy nghề, làm cho những hình thức giáo dục này có sẵn và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận, và thi hành các biện pháp thích hợp như đưa ra loại hình giáo dục miễn phớ và cung cấp hỗ trợ  tài chính trong  trường hợp cần thiết;
c) Dùng mọi phương tiện thích hợp để giúp cho tất cả mọi người, trên cơ sở khả năng của mình, đều có thể tiếp cận với giáo dục đại học;
d) Làm cho những hướng dẫn và thông tin về giáo dục và dạy nghề sẵn có và mọi trẻ em đều có thể tiếp cận được;
e) Có biện pháp khuyến khích việc đi học đều đặn ở  trường và giảm tỷ lệ bỏ học.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em trong giáo dục
Tuyên ngôn nhân quyền:
Điều 26.
1. Mọi người đều có quyền được học tập. Giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở các bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng.
2. Giáo dục phải nhằm giúp con người phát triển đầy đủ về nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục cũng phải nhằm tăng cường sự hiểu biết, lòng khoan dung và tình hữu nghị giữa tất cả các dân tộc, các nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, cũng như phải nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc về duy trì hoà bình.
3. Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn các hình thức giáo dục cho con cái họ.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em trong giáo dục (tt)
Điều 61  
1. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý.
3. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.
Quyền Giáo dục trong Hiến Pháp 2013
Điều 10: Bình đẳng trong giáo dục
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.
Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành. Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng.
Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình.
Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2009
Điều 13: Đầu tư cho Giáo dục
Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục.
Ngân sách nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục.


Luật sửa đổi bổ sung Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2009 (tt)
Kế hoạch Hành động Quốc gia về Giáo dục toàn dân (EFA) 2003-2015 và Chiến lược giáo dục 2011-2020
EFA gồm các mục tiêu sau:
Có được tất cả những người trẻ tuổi vào trường học và để họ có thể hoàn thành 9 năm giáo dục cơ bản với giá cả phải chăng, đảm bảo có chất lượng tốt và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá và dân tộc
Cho phép người dân bên ngoài độ tuổi đi học (nghĩa là: trẻ em dưới độ tuổi đi học tiểu học và người lớn) có được giáo dục càng nhiều càng tốt.
Các hành động được thực hiện để đạt được các mục tiêu của EFA, tập trung vào:
Liên tục đổi mới, cải cách, hiện đại hóa giáo dục
Đáp ứng được các nguồn lực được đề ra gồm cả đổi mới và vận hành tốt hệ thống giáo dục được đổi mới
7
5 Mục tiêu chiến lược của VN:
Chuyển từ số lượng sang chất lượng
Hoàn thành giáo dục phổ cập tiểu học và trung học cơ sở
Tạo các cơ hội học tập suốt đời
Huy động sự tham gia đầy đủ của cộng đồng – tất cả cho giáo dục
Đảm bảo quản lý hiệu quả và huy động nguồn lục tốt hơn.
Chiến lược giáo dục 2011-2020 (tt)
Các luật, văn bản pháp luật khác
Luật Giáo Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004:
Điều 2, 4, 5, 16, 28, 41, 42.
Các nghị định của Chính phủ
Các thông tư, quyết định của Bộ GD-ĐT

9
 
Gửi ý kiến